Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Về Bắc - Làng Phú thứ (24/10/2011)

Bố có một tâm nguyện từ rất lâu, có lẽ từ 1995, khi bố lần đầu tiên ra Hà nội, là một ngày nào đó sẽ đưa bà Nội và bà Ba về thăm lại quê nơi chôn nhau cắt rốn. 

Tự bố trong những chuyến đi công tác của công ty Shell đã tranh thủ để tìm về lại làng Phú thứ xa xưa, nơi mà hai bà luôn nhắc đi nhắc lại trong mọi câu chuyện kể từ khi bố còn bé xíu. Bố đã tìm được ngôi nhà cũ, chụp hình về cho hai bà xem từ hồi 1997 và vẫn đau đáu một kế hoạch cho chuyến về bắc của hai bà. 

Thế mà thoắt cái đã hơn 10 năm, công việc, thời gian, tiền bạc, ... đủ mọi lý do mà ước mơ ấy cứ dùng dằng mãi chưa thực hiện được.

Nay thì nhất quyết phải làm. Đã ổn định xong việc học cho Su. Không đi làm công nữa. Tiền đã có. Ơn chúa là hai bà vẫn còn khỏe để có thể đi được. Thế nên dù hai bà theo thói quen tằn tiện vừa ngại vừa tiếc tiền, bố quyết định đặt vé máy bay mà không chờ ý kiến của hai bà. 

Ngạc nhiên thay, cô Ba cũng muốn đi theo, điều mà bố không ngờ đến! Bố gọi cho bác Hùng rủ ầu ơ, sợ mai mốt bác ấy trách là đi mà không nói. Lại càng ngạc nhiên nữa, cả hai bác cũng đăng ký đi luôn, thế là đủ một đoàn sáu người lý tưởng. Bác Phùng cũng được mời nhưng không đi.

Thế là thiên thời, địa lợi, nhân hòa đủ cả, lịch trình lên sẵn, bố đặt luôn vé không hoàn lại cho tất cả mọi người để có giá rẻ và quyết tâm không thay đổi gì nữa.

Một vài cơn áp thấp nhiệt đới gây mưa bão làm bố hơi lo, nhưng vẫn tin tưởng ở thời điểm lý tưởng đã chọn bằng kinh nghiệm nhiều năm, chuyến đi sẽ bắt đầu từ thứ hai 24/10/2011 và kết thúc vào ngày 27/10/2011. Thế là vừa phải và phù hợp với sức khỏe của hai bà.

Một chuyến đi đời người, gần 60 năm trở lại nơi chốn cũ, nơi hai bà sinh ra, lớn lên suốt thời thơ ấu và chắc là chuyến đi một lần, không biết có dịp nào đi nữa không?

Thế nên bố cảm thấy sự háo hức, mong đợi của hai bà suốt những ngày trước chuyến đi dù không thể hiện ồn ào bên ngoài. Bà Nội đi may vài bộ áo mới. Bà Ba ngoan ngoãn uống đầy đủ thuốc bổ nhung hươu mỗi khi bố nhắc nhở,...

Rồi ngày ấy cũng đến! Mới 5:00 đã thấy bác Hùng gọi điện thoại từ sân bay. Vậy là hai bác đi từ Biên hòa từ lúc 4:00, nhà mình đến sân bay lúc 5:30 khá sớm để làm thủ tục vì chuyến bay khởi hành lúc 6:40.
Thủ tục đã xong. Ngồi chờ háo hức. Bác Hùng, bác Trúc và cô Ba lần đầu đi máy bay. Bà Ba thì đi lần thứ hai sau lần thứ nhất cách nay 57 năm! khi di cư từ bắc vào nam. Bà Nội thì đã đi ba lần rồi: Đà nẵng và Singapore.
Rồi cũng lên máy bay. Bà Ba đang nhìn ra ngoài xem máy bay chuẩn bị cất cánh. Bà Nội đang cố ngủ vì hôm qua chắc không ngủ được?

Đến sân bay Nội bài lúc hơn 9 giờ sáng. Bố thuê một xe Innova đón đoàn ở sân bay và trực chỉ Nam Định. Đến Nam Định đã gần 12 giờ trưa. Buổi trưa thành phố "quê" vắng vẻ, chạy lòng vòng cả 30' vẫn chưa kiếm được chỗ ăn trưa. Quyết định ghé vào quán cơm bình dân này vì không còn lựa chọn nào khác. Hóa ra mọi người được một bữa cơm quê hương rất ngon (phần vì đói) và rẻ.

Nghỉ ở Vi Hoàng Hotel, khách sạn lớn nhất Nam Định. Sau một giấc nghỉ trưa ngắn, mọi người lên đường đi về làng cũ Phú thứ. Chụp hình kỷ niệm ở cửa khách sạn trước khi đi.

Phú thứ ở chân núi Gôi, gần thị xã Gôi, huyện Vụ bản, cách Nam Định 15km về hướng Nam. Dù đã hơn 10 năm bố vẫn nhớ đúng đường từ QL 10 rẽ vào làng. Không nhiều thay đổi lắm, bố dẫn mọi người trước hết đến nhà thờ Phú thứ, trung tâm của làng. Hình mọi người đang từ cổng đi vào sân nhà thờ.

Xúc động trào dâng. Phút giây đầu tiên là tạ ơn Đức Mẹ đã ban ơn lành dẫn dắt hai bà trở về sau hơn nửa thế kỷ.

Tiếp đến xin vào nhà thờ để thăm Chúa.

Nhà thờ cổ thân quen sau bao năm xa cách là nơi hai bà được rửa tội. Bà Ba thì đã trải qua trọn thời thanh xuân của mình ở ngôi nhà thờ này.
Bàn thờ và cung thánh sơn son thếp vàng mà bà Ba luôn nhắc tới với sự tự hào.

Bà Nội cũng có nhiều kỷ niệm ở đây.





Chào Chúa đã xong, mọi người ra ngoài tham quan nhà thờ và chụp hình kỷ niệm. Đây là hông phải của nhà thờ.

Gần hơn.
Nhà xứ. Ngôi nhà lớn bên trái trước đây là nhà cha xứ - cha Ninh, cha Dụ, thời hai bà còn ở nhà. Hiện giờ xứ không có cha cai quản, cha ở làng Báng chỉ về làm lễ chiều thứ bảy. Ngôi nhà nhỏ bên trái là nhà người coi sóc nhà thờ.

Bà Ba đang hô vang khẩu hiệu và giơ tay sắp hàng. Bà đang nhớ lại sáu bảy chục năm về trước còn là thiếu nhi sinh hoạt cũng đứng xếp hàng ngay chỗ sân này.

Tần ngần bên cây nhãn cổ thụ ở bờ ao hông nhà thờ. Đã biết bao biến cố xảy ra sau ngần ấy năm?

Bên kia ao là hàng cây bao quanh nhà thờ, rồi đến ruộng làng (có rất nhiều đỉa, như bà Ba nhớ lại). Xa xa là một góc núi Gôi huyền thoại.

Hầu như cảnh vật không thay đổi. Hai bà vẫn nhớ lại được vị trí và gọi tên của hầu hết các khu nhà, cây cối, ao hồ,..
Vui ơi là vui. Có bao giờ nghĩ là sẽ có dịp trở lại thăm thú như thế này đâu?

Tranh thủ chụp một bức ảnh dọc hông nhà thờ


Rất tình cờ, gặp đúng người cần gặp ngay tại sân nhà thờ. Bà mặc áo trắng đội nón là là cháu ông Quản Tám, đang ở tại nhà cũ của ông bà ngoại. Thế là đỡ mất công hỏi đường.

Kỷ niệm toàn cảnh nhà thờ ở mặt trước.




Tạ ơn Chúa và Đức Mẹ Phú thứ lần nữa trước khi ra về.

Rời nhà thờ, kế đến là tìm đường về thăm nhà cũ. Nhà cũng không xa lắm, cách nhà thờ chừng trăm rưởi mét. Mọi người đang rẽ vào ngõ nhà.

Gặp người quen cũ cùng ngõ, ông Hành. Bà Ba ghét ông này lắm - "vì nó theo CS!"

Cuối cùng đã về đến nhà xưa! Đây là ngôi nhà của ông bà ngoại ở Phú thứ đây, nơi sinh ra và lớn lên của cả gia đình: bác Phòng, bác Bảng, cô Nhị, bác Hiếu, bác Mục và bà Nội. Những phút giây đầu tiên ở nhà cũ. Bà Nội đang nhớ lại và chỉ những nhà chung quanh.

Ngõ vào nhà, nhìn từ sân nhà ra đường ngoài, bên trái là bể nước còn nguyên, xây từ khi bà Nội còn ở nhà; bên phải là dãy nhà phụ.

 Góc vườn bên trái của nhà chính. Điển hình khung cảnh bắc bộ: đụn rơm, gốc chuối và rất bé.

Ngoài khoảng sân gạch là khoảnh vườn nhỏ trồng rau. Cô Ba đang săm soi các luống rau xanh mơn mởn trong vườn.
Khoảnh vườn và bể nước cũ.
 Khoảnh vườn đứng từ thềm nhà nhìn thẳng ra.
 Bác Hùng và bà Ba cũng đang xem vườn.
Bác Hùng đứng trước sân ngôi nhà đáng ra là của mình - Vì bác Hùng là cháu đích tôn nên sẽ thừa tự ngôi nhà này nếu không có những biến động thời cuộc mà gia đình phải bỏ quê hương ra đi. Hàng năm con cháu sẽ phải tụ họp về đây vào những ngày giỗ chạp.

Vào trong thăm nhà.

 Uống trà
 Đàm đạo
Bà Thao nhà kế bên nghe tin chạy qua. Bà này trạc tuổi và thuở bé cùng chơi đùa với bà Nội. Bùi ngùi nhắc lại những kỷ niệm xưa, người sống, kẻ chết, bao nhiêu là cuộc bể dâu.

Ghi lại hình ảnh kỷ niệm trước khi giã từ nhà cũ


 Qua thăm nhà bà Thao hàng xóm, hai nhà cách nhau một hàng gạch thấp.

Cô đi cẩn thận kẻo té!

Sân nhà bà Thao, gồm một phần đất của nhà bà Khôi trước đây.

Bà Thao chỉ dẫn những khu nhà hàng xóm chung quanh, những thay đổi bể dâu, cái còn, cái mất.



Cùng ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu.


Tiếp tục đi thăm quanh làng, đường ven làng từ nhà cũ ra nhà thờ đi theo ngã sau. Đang thời điểm gặt lúa mùa, đường làng vàng rực rơm rạ.

Để em tiễn chị một quãng đường. Đường từ nhà ra dọc theo một con ngòi dài, bên kia là ruộng lúa kéo dài đến xã Tam Thanh.
Rồi cũng đến ngã rẽ, chia tay thôi.

Bịn rịn và quyến luyến. Sáu mươi năm cuộc đời như gió thoảng qua có là gì đâu?

Chắc chẳng bao giờ gặp nhau nữa nhỉ? Ra đi tóc xanh giờ đầu đã bạc.

Thôi về thôi.


Dạo bước quanh làng qua những ngõ nhỏ, nơi ngày xưa các tiền bối đã sống đã đi lại hàng ngày. Đường này dẫn trực tiếp đến cổng nhà thờ.

Thăm người sống xong thì đến thăm người chết. Nơi kế tiếp là nghĩa địa giáo xứ. Ít gì thì có ông ngoại nằm ở đây từ gần bảy chục năm trước. Còn những người trăm năm trước thì sao nhỉ?

 Đường dẫn vào nghĩa trang. Hoa vàng rụng ngập bước chân.


Mộ cũ mới lẫn lộn, đa phần là cũ. Núi Gôi xa xa nhìn từ nghĩa trang.

Bà Ba: "Mộ bố tôi ở phía bên này này"

 "Bố tôi nằm ở đâu? Sao mà tìm được đây?"

 "Bố ơi, bố ở đâu? Con về thăm bố đây!"

Tần ngần và buồn bã. Bố ơi, con lạc mất bố rồi.

Giờ chỉ còn biết cầu nguyện cho bố và tổ tiên thôi.



Kết thúc cuộc trở về làng Phú thứ lịch sử.

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói về giáo dục

Bố chép lại ở đây bài nói chuyện mới đây của Đức Giáo hoàng về giáo dục trước cáo giáo sư đại học ở Nhà thờ của Tu viện San Lorenzo de El Escorial ở Madrid
Chủ yếu là để cho Su đọc. Hôm nào Su rảnh thì dịch sang tiếng Việt cho Bố với Nu đọc và để khỏi quên tiếng Việt nhé.

"I have looked forward to this meeting with you, young professors in the universities of Spain. You provide a splendid service in the spread of truth, in circumstances that are not always easy. I greet you warmly and I thank you for your kind words of welcome and for the music which has marvelously resounded in this magnificent monastery, for centuries an eloquent witness to the life of prayer and study. In this highly symbolic place, reason and faith have harmoniously blended in the austere stone to shape one of Spain’s most renowned monuments.


Being here with you, I am reminded of my own first steps as a professor at the University of Bonn. At the time, the wounds of war were still deeply felt and we had many material needs; these were compensated by our passion for an exciting activity, our interaction with colleagues of different disciplines and our desire to respond to the deepest and most basic concerns of our students. This experience of a "Universitas" of professors and students who together seek the truth in all fields of knowledge, or as Alfonso X the Wise put it, this "counsel of masters and students with the will and understanding needed to master the various disciplines", helps us to see more clearly the importance, and even the definition, of the University.

The theme of the present World Youth Day – "Rooted and Built Up in Christ, and Firm in the Faith" (cf. Col 2:7) can also shed light on your efforts to understand more clearly your own identity and what you are called to do. As I wrote in my Message to Young People in preparation for these days, the terms "rooted, built up and firm" all point to solid foundations on which we can construct our lives.

But where will young people encounter those reference points in a society, which is increasingly confused and unstable? At times one has the idea that the mission of a university professor nowadays is exclusively that of forming competent and efficient professionals capable of satisfying the demand for labor at any given time. One also hears it said that the only thing that matters at the present moment is pure technical ability. This sort of utilitarian approach to education is in fact becoming more widespread, even at the university level, promoted especially by sectors outside the University. All the same, you who, like myself, have had an experience of the University, and now are members of the teaching staff, surely are looking for something more lofty and capable of embracing the full measure of what it is to be human. We know that when mere utility and pure pragmatism become the principal criteria, much is lost and the results can be tragic: from the abuses associated with a science which acknowledges no limits beyond itself, to the political totalitarianism which easily arises when one eliminates any higher reference than the mere calculus of power. The authentic idea of the University, on the other hand, is precisely what saves us from this reductionist and curtailed vision of humanity.

In truth, the University has always been, and is always called to be, the "house" where one seeks the truth proper to the human person. Consequently it was not by accident that the Church promoted the universities, for Christian faith speaks to us of Christ as the Word through whom all things were made (cf. Jn 1:3) and of men and women as made in the image and likeness of God. The Gospel message perceives a rationality inherent in creation and considers man as a creature participating in, and capable of attaining to, an understanding of this rationality. The University thus embodies an ideal which must not be attenuated or compromised, whether by ideologies closed to reasoned dialogue or by truckling to a purely utilitarian and economic conception which would view man solely as a consumer.

Here we see the vital importance of your own mission. You yourselves have the honor and responsibility of transmitting the ideal of the University: an ideal which you have received from your predecessors, many of whom were humble followers of the Gospel and, as such, became spiritual giants. We should feel ourselves their successors, in a time quite different from their own, yet one in which the essential human questions continue to challenge and stimulate us. With them, we realize that we are a link in that chain of men and women committed to teaching the faith and making it credible to human reason. And we do this not simply by our teaching, but by the way we live our faith and embody it, just as the Word took flesh and dwelt among us. Young people need authentic teachers: persons open to the fullness of truth in the various branches of knowledge, persons who listen to and experience in own hearts that interdisciplinary dialogue; persons who, above all, are convinced of our human capacity to advance along the path of truth. Youth is a privileged time for seeking and encountering truth. As Plato said: "Seek truth while you are young, for if you do not, it will later escape your grasp" (Parmenides, 135d). This lofty aspiration is the most precious gift which you can give to your students, personally and by example. It is more important than mere technical know-how, or cold and purely functional data.

I urge you, then, never to lose that sense of enthusiasm and concern for truth. Always remember that teaching is not just about communicating content, but about forming young people. You need to understand and love them, to awaken their innate thirst for truth and their yearning for transcendence. Be for them a source of encouragement and strength.

For this to happen, we need to realize in the first place that the path to the fullness of truth calls for complete commitment: it is a path of understanding and love, of reason and faith. We cannot come to know something unless we are moved by love; or, for that matter, love something which does not strike us as reasonable.

"Understanding and love are not in separate compartments: love is rich in understanding and understanding is full of love" (Caritas in Veritate, 30). If truth and goodness go together, so too do knowledge and love. This unity leads to consistency in life and thought, that ability to inspire demanded of every good educator.

In the second place, we need to recognize that truth itself will always lie beyond our grasp. We can seek it and draw near to it, but we cannot completely possess it; or put better, truth possesses us and inspires us. In intellectual and educational activity the virtue of humility is also indispensable, since it protects us from the pride, which bars the way to truth. We must not draw students to ourselves, but set them on the path toward the truth, which we seek together. The Lord will help you in this, for he asks you to be plain and effective like salt, or like the lamp which quietly lights the room (cf. Mt 5:13).

All these things, finally, remind us to keep our gaze fixed on Christ, whose face radiates the Truth which enlightens us. Christ is also the Way, which leads to lasting fulfillment; he walks constantly at our side and sustains us with his love. Rooted in him, you will prove good guides to our young people. With this confidence I invoke upon you the protection of the Virgin Mary, Seat of Wisdom. May she help you to cooperate with her Son by living a life which is personally satisfying and which brings forth rich fruits of knowledge and faith for your students. Thank you very much."

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

MIT II

Bố và Su tiếp tục tham quan MIT, một trong những trung tâm công nghệ kỹ thuật hàng đầu của Mỹ và thế giới. MIT cũng là trường đại học đầu tiên công bố giáo trình miễn phí trên mạng cho mọi người tự do tham khảo, mà bố là một trong những người đã sử dụng những kiến thức từ giáo trình đó. 

Đường phố trong campus rất sạch sẽ và vắng. 




Tòa nhà công nghệ nhìn từ phía sau. Bố và Su thuận chân vào tham quan.

Bố rất ấn tượng với một trong những bộ rada đầu tiên trên thế giới.

Gần ngay đó là viện nghiên cứu ung thư Koch của MIT

Hành lang trước viện với các bức hình chụp các tế bào ung thư và các nghiên cứu mới nhất của viện về các liệu pháp chữa trị.



Bố cũng muốn chụp một bức hình kỷ niệm ở đây.


Trên đường quay về ga Kendall, các khách sạn và tòa nhà của một số công ty dược phẩm, công nghệ sát ngay bên trường.

Dưới ga Kendall, bố chụp hình một bà cụ già đơn độc dưới đường hầm đang vội vã rảo bước về nhà.

Havard III

Đã quá trưa, campus còn mênh mông mà chân đã mỏi, gối đã chồn, bụng bắt đầu đói, hai bố con băng qua Massachusetts Avenue rời bỏ khu campus để đến quảng trường trung tâm gọi là Cambridge Common.

Vỉa hè của Massachusetts Avenue, bên trái là Harvard campus, bên phải là Cambridge Common.
Tượng của John Bridge (1578-1665) ở một góc của công viên. Ở đây còn có hai khẩu đại bác di tích của thời cách mạng Mỹ.


Một nhóm kịch nghiệp dư đang tập để chuẩn bị cho buổi diễn buổi tối nhằm quyên góp cho nạn nhân của cơn bão Irene ở Vermont.

Dãy chung cư ở đối diện công viên.

Bãi cỏ rất rộng. Nơi đây cũng là một di tích lịch sử của Mỹ, nơi mà George Washington lần đầu tiên tụ tập quân trong cuộc cách mạng Mỹ để giành độc lập từ tay đế quốc Anh.


Bên kia công viên, đối diện với là Radcliffe Institute và Harvard Graduate School of Education.

Khoảnh đất ở giữa này gọi là Radcliffe Yard.



Rời Radcliffe hai bố con quay về Harvard Square để xuống ga Harvard trở về downtown. Đây là khu phố tập trung các tiệm ăn, mua sắm, cửa hàng, bar, v.v....rất đông đúc và náo nhiệt.


Cuối cùng cũng trở lại nơi xuất phát. Cửa xuống ga Harvard ở phía trước.